[Dịch thuật] Một cách nghĩ khác về nền giáo dục cho con em chúng ta

Trang thông tin SCIS giới thiệu bài viết "Một cách nghĩ khác về nền giáo dục cho con em chúng ta" của tác giả Peter H. Diamandis về vấn đề giáo dục quốc tế trong thế kỷ 21 - một chuyên mục mới của Trung tâm SCIS. Bài viết được NCV. Châu Huy Ngọc dịch và hiệu đính sang tiếng Việt, được sự đồng ý của tác giả khi xuất bản.

 

 

 

Một cách nghĩ khác về nền giáo dục cho con em chúng ta


Tác giả: Peter Diamandis


Trong tuần này Bill Gates đã công bố kế hoạch đầu tư gần 1,7 tỷ USD vào công tác cải cách nền giáo dục công lập Mỹ.


Trong số đó, ông dành 25% cho “ “cược lớn” (big bets) – hay những ý tưởng đổi mới sáng tạo có tiềm năng thay đổi hướng đi của nền giáo dục công trong vòng từ 10-15 năm tới”


Tôi đã trăn trở rất nhiều về tương lai của giáo dục, cho chính hai cậu con trai 6 tuổi và những nhân viên của mình.


Đây cũng là một chủ đề tôi sẽ trình bày sâu hơn tại sự kiện Abundance 360 vào tháng 1 tại Beverly Hills. Những diễn giả khách mời bao gồm Sebastian Thrun, đồng sáng lập Udacity; Max Ventilla, CEO của AltSchool; và Carin Watson, Phó Chủ tịch Điều hành phụ trách mảng Học tập & Giáo dục  của Singularity University [một think tank ở Silicon Valley].


Hồi đầu năm nay tôi đã viết một sách trắng về cách mà tôi sẽ tái sáng tạo giáo dục phổ thông cho một thế giới đang đột phá vượt bậc. Quý vị có thể đọc những quan điểm của tôi dưới đây hay tải về ở đường link: http://www.diamandis.com/education-white-paper


Tôi bắt đầu tự vấn với sự mặc định rằng hầu hết các trường tiểu học không hề có sự thay đổi nào trong mấy thập kỷ qua (và có thể lâu hơn), như vậy thì tôi muốn cho các con mình học gì đây? Tôi sẽ tái sáng tạo nhà trường tiểu học như thế nào trong một kỷ nguyên phát triển đột phá?


Bài blog này trình bày 5 chủ đề liên quan đến giáo dục tiểu học, bao gồm:


1. Năm vấn đề của các trường tiểu học ngày nay

2. Năm nguyên tắc định hướng cho giáo dục tương lai

3. Một chương trình giáo dục tiểu học cho tương lai

4. Các công nghệ đột phá trong lớp học

5. Tư duy cho thế kỷ 21

 

Chân thành cáo lỗi vì độ dài của bài viết, nhưng nếu quý vị có con thì những chi tiết trình bày dưới đây sẽ ít nhiều bổ ích. Nếu không [xin hãy chờ đến] bài viết tuần sau sẽ có độ dài như thường lệ với một chủ đề thú vị khác. Nào, xin mời….

 

Năm vấn đề của các trường tiểu học ngày nay

 

Ắt hẳn các trường tiểu học truyền thống có nhiều vấn đề cần bàn nhưng tôi chỉ chọn ra một số ít khiến tôi trăn trở nhất.

 

1. Cách chấm điểm: trong hệ thống giáo dục truyền thống, học sinh bắt đầu bằng 1 điểm “A” là cao nhất, và mỗi lần có sai sót thì điểm số sẽ bị trừ đi. Nói tránh đi thì điều này làm nhụt chí học sinh, còn nói thẳng ra thì điểm số vốn chẳng nói lên điều gì trong cuộc sống khi chúng ta trưởng thành. Trong thế giới trò chơi (ví dụ như Angry Bird), mọi thứ đều ngược lại. Người chơi bắt đầu từ số 0 và cứ mỗi lần làm đúng thì điểm sẽ tăng lên.

 

2. Ông biết tuốt trên bục giảng: trong hầu hết các lớp học đều là cảnh giáo viên đứng trên bục trước lớp giảng bài cho các em học sinh mà một nửa thì luôn chán chường, nửa còn lại thì ngơ ngác. Mô hình “một thầy cho mọi thứ” là di sản của một thời kỳ thiếu thốn khi mà cả thầy giỏi và trường tốt đều khó tìm.

 

3. Tính phù hợp: khi hồi tưởng lại về thời tiểu học và trung học, tôi chợt nhận ra những gì tôi học được hầu như không hữu dụng trong cuộc sống khi trưởng thành, và hầu hết những bài học đắt giá để thành công tôi đều phải tự học lấy một mình. (Tôi không biết bạn thế nào, còn tôi gần như không bao giờ phải phân tức đa thức thành nhân tử trong suốt quãng đời trưởng thành của mình)

 

4. Trí tưởng tượng – Làm theo khuôn mẫu: có lẽ sự quan ngại lớn nhất của tôi chính là gốc rễ sâu xa từ thời cách mạng công nghiệp [thế kỷ 19] với [tư duy] công nhân công xưởng của nhà trường ngày nay. [Điều này thấy rõ từ] chương trình được cấu trúc theo lối học thuộc lòng máy móc bóp nát mọi ý tưởng sáng tạo của hầu hết mọi đứa trẻ. Tôi chợt nhớ [có ai đó nói rằng] “mọi sự đột phá đều bắt đầu bằng một ý tưởng điên rồ”. Chúng ta tìm đâu được những ý tưởng điên rồ trong nhà trường ngày nay? Và tìm đâu được [môi trường] để nuôi dưỡng óc tưởng tượng?

 

5. Nhàm chán: nếu học tập ở trường là một việc nhàm chán và vô hồn thì động lực lớn nhất của việc học tập của con người là sự đam mê, sẽ bị chôn vùi. Ép buộc con em chúng ta phải học thuộc lòng các con số và nhân vật, ngồi thụ động trong lớp học và thi các kỳ thi chuẩn hóa đánh giá năng lực hoàn toàn triệt tiêu mục đích [của việc học].

 

Mỗi ngày trung bình có khoảng 7.200 học sinh bỏ học ở bậc trung học phổ thông, hay 1,3 triệu mỗi năm. Điều này có nghĩa là chỉ 69% tổng số học sinh đầu vào trung học phổ thông có thể hoàn thành 4 năm chương trình học. Hơn nữa, hơn 50% các em bỏ học cho biết sự nhàm chán là nguyên nhân số 1 cho việc các em chấm dứt chương trình học của mình.

 

Năm nguyên tắc định hướng cho giáo dục tương lai

 

Từ ‘suy nghĩ đến sản xuất chỉ trong chốc lát’. Nói đơn giản hơn là chúng ta có thể gần nhừ làm bất cứ việc gì và tạo ra bất cứ thứ gì mà mình muốn.

 

Trong tương lai đó, những phẩm chất nào là quan trọng nhất mà con em chúng ta cần trang bị để thành công trên đường đời mai sau? Điều gì là quan trọng nhất trong việc giáo dục trẻ em ngày nay?

 

Với tôi đó là sự đam mê, óc tò mò, trí tưởng tượng, tư duy phản biện và sự kiên trì.

 

1. Đam mê: Ắt hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng có không ít người sống mà không có mục đích gì…hay một tiếng gọi…hay một điều gì đó để bật dậy khỏi giường để bắt đầu ngày mới. Nguồn tài nguyên quý giá nhất của nhân loại chính là trí tuệ bền bỉ và đầy đam mê của con người, như vậy việc tạo ra một tương lai cho những đứa trẻ có khát vọng là vô cùng quan trọng.

 

Với hai đứa con trai 5 tuổi của mình, tôi muốn ủng hộ các con tìm kiếm những đam mê hay mục đích cuộc sống…một điều gì đó thực sự độc đáo thuộc về chính bản thân chúng. Theo cách mà chương trình Appollo [khám phá không gian vào những năm 60] và loạt phim Strar Trek đã chấp cánh cho tình yêu từ rất sớm của tôi đối với thuộc về vũ trụ, và chính niềm đam mê đó đã thúc đẩy tôi phải học và làm [những việc mình muốn].

 

2. Sự tò mò: Sự tò mò là yếu tố bẩm sinh của trẻ em, nhưng khi lớn lên hầu hết chúng ta trên đường đời dần đánh mất nó. Tại sao?

 

Trong thế giới của Google, người máy và trí tuệ nhân tạo, nuôi dạy một đứa trẻ để em biết liên tục đặt câu hỏi và thực nghiệm [các tình huống] “nếu như” là một việc vô cùng quý giá. Trong thời đại của học máy (machine learning), dữ liệu khổng lồ và nghìn tỷ bộ cảm biến, thì điều quan trọng nhất chính là việc chúng ta đặt được những câu hỏi “chất lượng”. 

 

3. Trí tưởng tượng: những nhà khởi nghiệp và những người nhìn xa về tương lai mường tượng về thế giới (và tương lai) họ muốn sống, và sau đó họ sẽ tạo ra nó. Trẻ em vô hình trung là những người có óc tưởng tượng phong phú nhất…[nên] việc để các em biết tầm quan trọng và khai phóng mà óc tưởng tượng có thể mang lại là vô cùng cần thiết.

 

4. Tư duy phản biện: trong một thế giới với vô vàn ý tưởng thường là xung đột với nhau, những lập luận vô căn cứ, những tiêu đề đánh lạc hướng người đọc, tin tức tiêu cực và những thông tin sai lạc, việc học kỹ năng tư duy phản biện giúp chúng ta tìm thấy những thông tin hữu ích trong vô vàn nhiễu loạn ấy. Đây có lẽ là nguyên tắc khó truyền đạt cho trẻ em hiểu nhất.

 

5. Sự bền bỉ/kiên trì: sự bền bỉ (grit) được định nghĩa là “niềm đam mê và kiên trì để theo đuổi  những mục tiêu dài hạn”, và yếu tố này gần đây đây được công nhận rộng rãi như là một trong những dấu chỉ và yếu tố quan trọng của sự thành công.

 

Dạy cho trẻ em cách không từ bỏ, liên tục nỗ lực, và không ngừng thử nghiệm các ý tưởng mới cho những gì mà các em thực sự đam mê để đạt được là cực kỳ cần thiết. Phần nhiều những thành công của cá nhân tôi là thành quả của sự “cứng đầu” như vậy. Tôi thường nói đùa rằng cả XPRIZE và Zero Gravity Corporation[1] đều “thành công chớp nhoáng sau 10 năm cần cù”.

 

Như vậy với 5 nguyên tắc cơ bản như trên, thì một chương trình giáo dục tiểu học sẽ được hình dung như thế nào? Chúng ta hãy cùng xem nhé….

 

Một chương trình giáo dục tiểu học cho tương lai

 

Trong 30 năm qua, bản thân tôi đã có vinh hạnh sáng lập hai trường đại học, Đại học Không gian Quốc tế (International Space University, ở Pháp) (1987) và Đại học Singularity (2007). Điều mà tôi hào hứng nhất trong việc đồng sáng lập hai cơ sở này là việc thiết kế và áp dụng chương trình đào tạo. Theo đường hướng đó, những nội dung trình bày dưới đây là những ý niệm ban đầu cho chương trình học mà bản thân tôi muốn các con mình sẽ học.

 

Tôi rất mong nhận được những ý kiến chia sẻ từ các bạn, và tôi sẽ ghi nhận thông địa chỉ này: https://www.surveymonkey.com/r/DDRWZ8R

 

Vì mục đích minh họa [cho ý tưởng của mình], tôi sẽ dùng các thuật ngữ “môn học” (course) hay “mô-đun” (module), nhưng trong thực tế đây chỉ là các thành tố để từ đó đan xen vào nhau xuyên suốt chương trình K-6 (giáo dục tiểu học của Hoa Kỳ).

 

Mô-đun 1: Kể chuyện/Giao tiếp.

 

Khi tôi suy tư về kỹ năng nào hữu ích nhất trong đời mình, thì đó chính là khả năng trình bày ý tưởng để gợi lên nhiều cảm hứng nhất có thể để khiến người nghe cùng “chung thuyền” với mình và hưởng ứng xuyên suốt trong quá trình thai nghén cũng như phát triển các định hướng sáng tạo. Khi trưởng thành, trong vai trò là nhà khởi nghiệp và CEO, chính khả năng giao tiếp rõ ràng và kể những câu chuyện đầy thuyết phục đã giúp tôi kiến tạo tương lai. Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên học bài học này ngay từ đầu. Như vậy hãy tưởng tượng về một mô-đun, từ năm nay qua năm khác, mà con em chúng ta có thể [dần] học và thực tập nghệ thuật hệ thống và truyền đạt gãy gọn ý tưởng của mình; [để đạt được] Mức độ tối cao của diễn thuyết và kể chuyện. Có thể các em học môn này sẽ xem các video thuyết trình kiểu TED, hoặc có thể các em sẽ tự tập trung lại để làm một chương trình TEDx cho trẻ em của riêng mình. Trên hết không gì hơn việc thực hành và trở nên thuần thục với việc thể hiện bản thân với những ý tưởng của mình ra thế giới bên ngoài và vượt qua nỗi sợ nói trước đám đông.

 

Mô-đun 2: Niềm đam mê

 

Nhà trường hiện đại phải giúp con em chúng ta tìm thấy và khám phá niềm đam mê của chúng. Đam mê là thành quả lớn nhất của quá trình tự khám phá bản thân. Đó cũng là nguồn của sự thích thú và niềm hứng khởi, và điều này là độc đáo ở mỗi đứa trẻ.

 

Chìa khóa dẫn đến tìm được niềm đam mê là sự trải nghiệm. [điều nay] cho phép các em thử sức với những chuyến phiêu lưu, những lĩnh vực công việc khác nhau và gặp gỡ những người trưởng thành đầy đam mê, càng nhiều càng tốt. Ngày xưa những trải nghiệm này bị giới hạn bởi các thực tế địa lý và chi phí [đắt đỏ], chỉ được thực hiện qua việc mời các ông bố bà mẹ trong cộng đồng đến lớp để nói về công việc theo kiểu “Xin chào, chú là Alan, bố của Billy, và chú là một nhân viên kế toán. Nhân viên kế toán sẽ làm…”

 

Nhưng trong một thế giới của Youtube và thực tế ảo (VR), việc con em chúng ta khám phá hơn 500 lĩnh vực ngành nghề hay các niềm đam mê khác nhau không chỉ là “có thế làm được” mà là đầy tính thuyết phục. Tôi mường tượng về một mô-đun mà ở đó trẻ em chia sẻ những niềm đam mê mới nhất mỗi tháng, chia sẻ các video (hay trải nghiệm VR thực tế ảo) và nói về những điều chúng yêu thích và những gì vừa học được.

 

Mô-đun 3: Sự tò mò & Thử nghiệm

 

Eistein có câu nói nổi tiếng “Tôi không có tài năng gì đặc biệt. Tôi chỉ tò mò một cách đầy đam mê”. Sự tò mò vốn là bẩm sinh ở trẻ em và đa phần sẽ mất đi khi lớn lên. Có thể nói rằng sự tò mò là nền tảng cho tất các các tiến bộ lớn trong khoa học-kỹ thuật, là khát vọng của một cá nhân dể biết được chân lý.

 

Đồng hành với sự tò mò là quá trình thử nghiệm và khám phá. [đó là] quá trình đặt câu hỏi, kiến tạo và thử nghiệm các giả thuyết, và thử nghiệm liên tục cho đến khi chân lý được tìm ra. Khi tôi tìm hiểu về những nhà khởi nghiệp và công ty khởi nghiệp thành công nhất, từ Google và Amazon cho tới Uber, [thì thấy rằng] thành công của họ phần lớn nhờ vào việc thử nghiệm không ngừng nghỉ để định hình sản phẩm và dịch vụ của mình.

 

Ở đây tôi mường tượng ra một mô-đun để giúp bọn trẻ thấm nhuần về tầm quan trọng của sự tò mò và cho chúng được phép nói “Con không biết, hãy cùng tìm hiểu xem.”

 

Xa hơn, một mô-đun hàng tháng sẽ dạy bọn trẻ cách thiết kế và thực hiện các thử nghiệm hiệu quả và có ý ích. Hãy tưởng tượng các em được học kỹ năng đặt câu hỏi, đề xuất một giả thuyết, thiết kế một cuộc thử nghiệm, thu thập dữ liệu và sau đó đi đến kết luận.

 

Mô-đun 4: sự kiên trì/bền bỉ

 

Để làm được những việc lớn, táo bạo hay quan trộng trong cuộc sống cần nhiều nỗ lực. Bạn không thể chỉ đơn giản bỏ cuộc khi mọi thứ trở nên khó khăn. Lòng kiên trì hay bền bỉ là kết quả của một quá trình học tập và tôi tin rằng [chúng ta] có thể dạy điều này từ lứa tuổi nhỏ, đặc biệt là khi đi kèm với sự theo đuổi đam mê của trẻ. 

 

Tôi mường tượng ra một chương trình học mà vào mỗi tuần sẽ dạy về sự nghiệp của một nhà khởi nghiệp vĩ đại và nhấn mạnh câu chuyện về lòng kiên trì của người đó. Như vậy sẽ làm nổi bật lên các cá nhân và doanh nghiệp gắn liền với những cá nhân đó, lặp đi lặp lại và sau cùng là dẫn đến thành công.

 

Xa hơn nữa tôi hình dung ra một mô-đun kết hợp sự bền bỉ và các thử nghiệm ở dạng trò chơi như cuộc thi FIRST LEGO league của Dean Kamen. Trong cuộc thi đó, các em từ lớp 4 trở lên nghiên cứu một vấn đề thực tế diễn ra trên thế giới ví dụ an toàn vệ sinh thực phẩm, tái chế, năng lượng v.v… và các em phải vượt qua thách thức để phát triển một giải pháp. Các em cũng phải thiết kế, lắp ráp và lập trình một người máy sử dụng LEGO MINDSTORMS®, sau đó thi đấu trên một sân đấu trên mặt bàn.

 

Mô-đun 5: trải nghiệm công nghệ

 

Trong một thế giới công nghệ tăng tốc chóng mặt, hiểu cách khoa học công nghệ vận hành cùng các ứng dụng cũng như tiềm năng của nó phục vụ lợi ích xã hội, theo thiển ý của tôi, mang ý nghĩa sống còn đối với tương lai của một đứa trẻ. Công nghệ và lập trình (sẽ nói thêm bên dưới) chính là ngôn ngữ chung cho toàn thế giới trong tương lai.

 

Trong mô đun này tôi hình dung là việc giảng dạy cho các em theo lứa tuổi phù hợp [được thực hiện] qua việc chơi và thể hiện. [Tức là] cho các em một cái nhìn bao quát về những công nghệ đột phá như điện toán, cảm biến, mạng, trí tuệ nhân tạo, sản xuất bằng công nghệ số, chỉnh sửa gene, thực tế ảo và tăng cường, người máy v.v… Mô-đun này không nhằm biến các em trở thành chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ mà sẽ thiên về cung cấp cho các em “ngôn ngữ” của những công cụ mới đó và ý niệm tổng quát về cách mà các em sẽ sử dụng những công nghệ này như thế nào trong tương lai. Mục tiêu ở đây nhằm vào việc khiến các em hào hứng, biểu diễn cho các em thấy để hình thành nên những ấn tượng lâu dài, và sau đó để mặc cho trí tưởng tượng của chúng bay bổng.

 

Mô-đun 6: sự thấu cảm

 

Sự thấu cảm, được định nghĩa là “khả năng thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc của người khác”, được xem là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của trẻ em ngày nay. Dù đã có nhiều sách vể viết về vấn đề này và đã có những cách để xây dựng đức tính này ở môi trường gia đình và trường học, những công cụ mới hiện hay khiến cho quá trình này diễn ra nhanh hơn.

 

Công nghệ thực tế ảo không còn chỉ đơn thuần là trò chơi điện tử nữa. Nghệ sĩ, các nhà hoạt động và phóng viên ngày nay thấy được tiềm năng của công nghệ này như là một động cơ thúc đầy sự thấu cảm bằng cách hướng sự chú ý của công chúng vào mọi thứ từ đại dịch Ebola cho đến điều kiện sống thực tế ở Dải Gaza. Và Jeremy Bailenson đang đi tiên phong tìm hiểu những ứng dụng của thực tế ảo cho mục đích tốt đẹp của cuộc sống.

 

Trong hơn một thập kỷ qua, phòng thí nghiệm của Bailenson ở [Đại học Stanford] đã nghiên cứu cách ứng dụng thực tế ảo để biến chúng ta thành những con người tốt hơn. Nhờ vào sức mạnh của thực tế ảo, những tình nguyện viên tại phòng thí nghiệm đã cảm nhận được trở thành Siêu Nhân sẽ như thế nào (để xem rằng điều đó có giúp họ trở nên hữu ích hơn hay không), hay trở thành một con bò (để giảm lượng tiêu thụ thịt), và ngay cả trở thành một nhánh san sô (để hiểu thêm về hiện tượng acid hóa đại dương).

 

Thoạt nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng những kịch bản thực tế ảo này có thể sẽ hiệu quả hơn các quảng cáo của chính quyền kêu gọi người dân hành xử tử tế hơn. Và hơn nữa, những sáng kiến này sẽ tiết kiệm giấy hơn. Chúng cũng giúp tiết kiệm tiền cho quỹ lương hưu. Chúng trông cũng bắt mắt hơn với những người xung quanh. Và việc này có thể sẽ dẫn đến những kết quả khác về mặt cách thức mà chúng ta dạy dỗ và huấn luyện mọi người từ  những trẻ vị thành niên ngại giao tiếp với bên ngoài cho đến những thẩm phán tòa án tối cao.

 

Mô-đun 7: Quy tắc đạo đức/Các tình thế khó xử về mặt giá trị đạo đức

 

Liên quan đến sự thấu cảm và cũng cùng mức độ quan trọng như vậy là mục tiêu phải trao cho các em một kim chỉ nam đạo đức. Gần đây tôi có tham quan một ngôi trường đặc biệt do Elon Musk sáng lập (trường Ad Astra, có nghĩa là “hướng đến những vì sao”) cho 5 cậu con trai của mình (8-13 tuổi). Một yếu tố tồn tại xuyên suốt trong ngôi trường chỉ có 31 học sinh ấy là những đối thoại về các quy tắc và giá trị đạo đức, những cuộc đối thoại ấy được thể hiện qua việc tranh luận về những tình huống trong thế giới thực mà con em chúng ta sẽ gặp phải một ngày nào đó trên đường đởi.

 

Đây là một ví dụ về phương pháp trò chơi và nhập vai của Ad Astra mà tôi đã từng nghe nói tới, và nó có thể được ứng dụng trong một mô-đun về các quy tắc và giá trị đạo đức. Hãy tưởng tượng có một thị trấn nhỏ bên hồ mà đa số dân cư cùng làm việc trong một nhà máy duy nhất. Tuy nhiên nhà máy đó liên tục xả thải làm ô nhiễm vùng hồ và làm chết mọi sinh vật ở đó. Như vậy chúng ta sẽ làm gì? Rõ ràng rằng là nếu đóng cửa nhà máy thì hầu như mọi người sẽ mất việc. Mặt khác nếu vẫn tiếp tục để nhà máy hoạt động thì cả vùng hồ sẽ bị hủy diệt. Những cuộc đối thoại hay nhập vai thường xuyên và thành nếp như vậy sẽ giúp các em nhìn rộng ra thế giới một cách hết sức nghiêm túc.

 

Mô-đun 8: Nguyên tắc cơ bản 3R (ĐVS) (Read = Đọc, wRiting = Viết, aRithmetic = Số học)

 

Không cần phải đắn đo khi nói rằng các trẻ nhỏ bắt đầu chương trình mẫu giáo cần những kiến thức cơ bản về đọc, viết và toán. Nhưng câu hỏi đặt ra là đâu là cách tốt nhất để các em học được những điều đó? Chúng ta đã quá quen thuộc với phương thức truyền thống với giáo viên cùng phấn trắng bảng đen, sách vở và bài tập về nhà làm mỗi tối. Nhưng tôi cho rằng cách dạy như vậy đã lỗi thời, ngày nay chúng ta có thể thay thế bằng các apps (ứng dụng trên thiết bị thông minh), trò chơi và mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom).

 

Được thực hiện đầu tiên bởi hai giáo viên trung học là Jonathan Bergman và Aaron Sams vào năm 2007, mô hình lớp học đảo ngược [như tên gọi của nó] đi ngược lại những trình tự của một lớp học truyền thống.

 

Học sinh xem tài liệu bài giảng, thông thường ở dạng bài giảng qua video, xem như bài tập về nhà trước khi đến lớp. Thời gian trên lớp sẽ được dành cho những hoạt động như thảo luận tương tác hay làm việc nhóm, tất cả được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

 

Những lợi ích rất rõ ràng:

 

1. Học sinh có thể tiếp thu bài giảng theo đúng sức của mình bằng cách xem đi xem lại video cho đến khi hiểu được bài, hoặc lướt nhanh nếu thông tin quá dễ hiểu.

2. Giáo viên có mặt khi học sinh thực hành áp dụng kiến thức mới. Thực hành bài tập về nhà ngay trên lớp cho phép giáo viên quan sát được những khái niệm, nội dung nào mà học sinh chưa rõ (nếu có) và hỗ trợ các em theo kịp các bạn.

3. Mô hình lớp học đảo ngược cho ra những kết quả rất rõ ràng: 71% giáo viên thực hiện mô hình này cho biết có sự cải thiện về điểm số, và 80% cho biết có sự cải thiện về thái độ học sinh.

 

Mô-đun 9: Thể hiện và ứng biến sáng tạo

 

Chúng ta ai cũng có óc sáng tạo. Đó là bản chất của con người…vấn đề là mỗi cá nhân đều có những cách khác nhau để thể hiện óc sáng tạo của mình.

 

Chúng ta cần khuyến khích trẻ em khám phá và phát triển khuynh hướng sáng tạo của chúng từ rất sớm. Trong mô-đun này, hãy tưởng tượng rằng chúng ta cho các em xem nhiều cách thức thể hiện sự sáng tạo khác nhau, từ các tác phẩm nghệ thuật đến kỹ thuật, âm nhạc và toán học, sau đó hướng dẫn các em khi chúng bắt đầu chọn một hay nhiều lĩnh vực mà mình yêu thích. Quan trọng hơn, các thầy cô (hay cha mẹ) có thể từ đó triển khai các bài học độc đáo dành riêng cho mỗi em dựa trên sở thích của chúng nhờ vào những nguồn tài liệu giáo dục mở như YouTube hay Khan Academy. Nếu con tôi yêu thích hội họa và người máy, thì giáo viên hay trí tuệ nhân tạo có thể dò tìm trên Internet và soạn ra một tập các bài học được cá nhân hóa từ những video hay bài báo có nội dung chia sẻ của những danh họa hay chuyên gia về người máy hàng đầu thế giới.

 

Thích nghi với những thay đổi là yếu tố cốt tử của thành công, đặc biệt trong một thế giới luôn đổi thay như hiện nay. Ứng biến là một kỹ năng có thể học được và chúng ta phải dạy cho các em từ giai đoạn sớm.

 

Trong hầu hết mọi lớp “tung hứng” ở các trường đại học, yếu tố cốt lõi của nghệ thuật ứng biến là tư duy “Vâng, và….”. Khi “diễn cương” một màn kịch, người diễn viên có thể giới thiệu một nhân vật hay một ý mới thay đổi hoàn toàn bối cảnh màn ấy. [Khi đó] việc các diễn viên còn lại trong cảnh ấy hô ứng theo “Vâng, và…” để đáp ứng thực tế đang diễn ra trên sân khấu là rất quan trọng, sau đó họ sẽ thêm vào một chi tiết mới của chính họ.

 

Hãy tưởng tượng về những trò chơi nhập vai như thế ở trường tiểu học, giáo viên cho học sinh một bối cảnh và liên tục thay đổi các yếu tố xung quanh bắt buộc các em phải ứng biến và chơi.

 

Mô-đun 10: Lập trình

 

Khoa học máy tính mở ra nhiều cánh cửa cho học sinh hơn bất kỳ ngành nào trong thế giới ngày nay. Ngay cả việc nắm được những vấn đề cơ bản cũng đủ giúp các em thành công trong bất kỳ ngành nghề nào từ kiến trúc cho đến động vật học.

 

Lập trình là một công cụ quan trọng của khoa học máy tính cũng như số học trong toán học và từ ngữ trong văn chương. Lập trình sẽ tạo ra phần mềm, nhưng khoa học máy tính là một lĩnh vực rộng bao quát nhiều khái niệm sâu hơn không chỉ giới hạn ở lập trình.

 

Mỗi học sinh ở thế kỷ 21 này cũng cần có cơ hội làm quen với các thuật toán, với cách làm ra một app hay là cách thức vận hành của Internet. Tư duy điện toán cho phép những trẻ mẫu giáo nắm bắt được các khái niệm như là thuật toán, phép đệ quy hay thuật giải heuristic. Ngay cả khi các em chưa hiểu được hết những thuật ngữ này, thì chúng cũng sẽ làm quen với những khái niệm cơ bản.

 

Hiện có hơn 500.000 việc làm đang chờ ứng viên trong lĩnh vực máy tính, đây là nguồn tạo ra các loại công việc mới số 1 ở Mỹ. Các vị trí thuộc nhóm này dự báo sẽ tăng với tốc độ gấp 2 lần tất cả các loại việc làm khác.

 

Lập trình thực sự thú vị! Ngoài những lý do hết sức thực tế khiến người ta phải học lập trình [như đã nói ở trên] thì việc tạo ra một trò chơi hay một nhân vật thực sự mang đến nhiều niêm vui cho trẻ nhỏ.

 

Mô-đun 11: Khởi nghiệp và Bán hàng

 

Về bản chất, tinh thần khởi nghiệp chính là việc xác định một vấn đề (và cơ hội), phát triển một tầm nhìn về cách thức giải quyết nó, và làm việc với một đội ngũ để biến tầm nhìn đó thành hiện thực. Tôi đã nhắc đến ngôi trường Ad Astra của Elon [Musk]: ở đây, một lần nữa, tinh thần khởi nghiệp là một môn học nền tảng trong đó học sinh sáng tạo và bán chính những sản phẩm và dịch vụ do mình làm ra cho nhau và cho cộng đồng của trường.

 

Chúng ta có thể tái hiện lại bài tập cơ bản này với 1 nhóm trẻ em theo nhiều cách thú vị khác nhau để dạy cho các em biết những bài học cơ bản nhất của tinh thần khởi nghiệp.

 

Đi liền với khởi nghiệp là bán hàng. Tôi cho rằng chúng ta cần dạy kỹ năng bán hàng cho mọi đứa trẻ từ khi các em còn nhỏ. Khả năng “bán” một ý tưởng (cũng gắn liền với kể chuyện) là một kỹ năng quan trọng trong sự nghiệp của tôi, và đó là một năng lực mà nhiều người chưa bao giờ được biết đến.

 

Quầy nước chanh của các thế hệ đi trước, dù khá khiêm tốn, là một bài học kinh điển trong bán hàng. [Ở đó] đứa trẻ ngồi ở 1 góc đường và cố bán những ly nước chanh nhà làm với giá 50 xu cho khách đi đường. Tôi cho rằng chúng ta có thể nâng tầm việc ấy và chủ động hơn trong việc biến nó thành 1 trò chơi bán hàng, và có thể cho các em tự tạo ra các chiến dịch Kickstater, Indiegogo hay GoFundMe[2] của mình. Trải nghiệm tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ và bán nó thành công sẽ là một kỷ niệm không thể nào quên và cho các em học sinh những công cụ thay đổi thế giới.

 

Mô-đun 12: Ngôn ngữ

 

Tôi vừa trở về từ Trung Quốc sau khi gặp gỡ những bậc phụ huynh mà sự quan tâm của họ dành cho việc giáo dục của con cái phải nói là phi thường. Một trong những mảng mà tôi thấy thực sự hào hứng là cách mà một số những bậc phu huynh tiên tiến nhất dạy con mình những ngôn ngữ mới: thông qua trò chơi. Trên máy tính bản, các em được phép chơi trò chơi nhưng phải bằng tiếng Pháp. Lòng ham mê chiến thắng sẽ khiến các em nhập tâm vào trò chơi và thúc đẩy việc học rất nhanh.

 

Ngoài trò chơi còn có thực tế ảo. Chúng ta biết rằng để trở nên thông thạo (ít nhất là về sau) thì việc hòa nhập hoàn toàn là cần thiết. Một học kỳ ra nước ngoài sang Pháp hay Ý cũng đủ để chúng ra hiểu biết thêm về ngôn ngữ cũng như văn hóa. Nhưng nếu là một đứa trẻ 8 tuổi thì sao?

 

Hãy tưởng tượng là chúng ta có một mô-đun kéo dài khoảng 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày, và các em sẽ dạo bước vòng quanh nước Ý trong thế giới thực tế ảo, đi chơi với các nhân vật trò chơi trí tuệ nhân tạo và chúng sẽ dạy, tương tác và chia sẻ các yếu tố văn hóa và ngôn ngữ theo những cách phù hợp nhất cho riêng từng em.

 

Công nghệ đột phá cho lớp học

 

Nếu quý vị đã từng tham dự sự kiện Abundance 360 hay Singularity University, hay theo dõi blogs của tôi có lẽ quý vị sẽ đồng ý với tôi rằng cách mà con em chúng ta học tập sẽ thay đổi một cách toàn diện trong một thập kỷ tiếp theo.

 

Dưới đây tôi sẽ khái quát 5 công nghệ hàng đầu sẽ tái định hình tương lai của giáo dục

 

Công nghệ 1: Thực tế ảo (VR) có khả năng giúp [học sinh] thực sự đắm mình trong việc học.

 

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng ta nhớ dc 20% những gì nghe được, 30% những gì đã thấy, và đến 90% những gì chúng ta làm hay mô phỏng. Công nghệ thực tế ảo tận dụng hoàn hảo tình huống sau cùng này bằng cách tạo các mô phỏng bay xuyên các mạch máu trong bài học về các tế bào, hoặc du hành khảo sát bề mặt Sao Hỏa tìm sự sống. Để biến điều này thành hiện thực, Google CardBoard[3] vừa cho ra đời sản phẩm Pioneer Expeditions (Viễn du tiên phong). Trong chương trình này, hàng ngàn trường học trên khắp thế giới sẽ nhận được một bộ dụng cụ bao gồm tất cả những gì mà giáo viên cần để tạo ra một hành trình ảo cho cả lớp. Dù dữ liệu cho công nghệ thực thế ảo ứng dụng trong trường phổ thông và đại học vẫn chưa được tập hợp đầy đủ, sự phát triển đều đặn của thị trường này được phản ánh qua sự ra đời của các công ty (bao gồm zSpace, Alchemy VR, và Immersive VR Education) tập trung hoàn toàn vào việc cung cấp cho các trường học các gói chương trình và nội dung dạy và học.

 

Kết hợp VR với một công nghệ liên quan gọi là thực tế tăng cường (AR) thì khi đó giáo dục trải nghiệm sẽ trở nên sống động. Hãy tưởng tượng việc mang một kính AR có khả năng lồng các bài học giáo dục trên nền những trải nghiệm thế giới thực. Có hứng thú với thực vật học ư? Khi bạn tản bộ trong một khu vườn thì thiết bị AR sẽ lồng tên và chi tiết về bất cứ loài cây nào mà bạn đang thấy.

 

Công nghệ 2: In 3D giúp cho học sinh mang ý tưởng của mình vào cuộc sống.

 

Không cần nói đến máy tính để bàn (hay trang bị máy tính bảng cho mỗi học sinh), chuyện đó là hiển nhiên. Trong tương lai gần giáo viên và học sinh sẽ muốn có thậm chí là đã có máy in 3D đặt trên bàn để giúp các em học những môn khoa học cơ bản, công nghệ, kỹ thuật và nguyên lý toán học (STEM). Bre Pettis của MakerBot Industries, với một tầm nhìn vĩ đại nhưng rất thực tế, nhìn về [viễn cảnh] mỗi bàn học ở Mỹ có một máy in 3D. Ông Pettis đã đặt câu hỏi: Hãy tưởng tượng nếu khi còn nhỏ bạn có một máy in 3D thay vì một bộ LEGO thì cuộc sống hiện nay của bạn sẽ khác biết dường nào?”. Quý vị có thể tự in ra những nhân vật mà mình yêu thích, những khối đồ chơi lắm ráp của chính mình, và quý vị có thể làm đi làm lại những thiết kế mới tùy thích theo trí tưởng tượng của mình. Maker Bots hiện có mặt tại hơn 5.000 trường trung học trên khắp nước Mỹ.

 

Đi xa hơn một bước, quý vị có thể tưởng tượng ra một tập tin 3D cho hầu hết các đề mục trên Wikipedia cho phép chúng ta in ra và học về một vật thể mà [trước kia] chúng ta chỉ có thể đọc hoặc hiển thị trên thiết bị thực tế ảo.

 

Công nghệ 3: Cảm biến & Mạng.

 

Sự bùng nổ của các thiết bị cảm biến và mạng sẽ kết nối mọi người với tốc độ cỡ gigabit hỗ trợ việc truy cập những video chất lượng cao bất kỳ lúc nào. Cùng lúc đó, các thiết bị cảm biến liên tục trở nên nhỏ hơn và tiết kiệm năng lượng hơn và được cài đặt trên tất cả mọi thứ. Một lợi ích sẽ là sự kết nối dữ liệu cảm biến với công nghệ học máy (machine learning) và trí tuệ nhân tạo (AI, sẽ nói dưới đây), như vậy thông tin về việc đứa trẻ có thể sao nhãng trong giờ học, hay chưa hiểu bài có thể được đo lường dễ dàng và truyền thông [đến đối tượng cần thiêt]. Kết quả sẽ là sự thể hiện thông tin thông qua phương thức thay thế hay với một tốc độ khác.

 

Công nghệ 4: Học máy (machine learning) đang khiến việc học mang tính thích nghi và cá nhân hóa.

 

Học sinh không ai giống ai, các em có những phương thức học tập (bằng cách đọc, nhìn, nghe, và làm) đến từ những bối cảnh giáo dục khác nhau và có những năng lực tri thức và mức độ tập trung khác nhau. Những tiến bộ trong công nghệ học máy và phong trào học tập thích nghi đang dẫn đến những giải pháp cho vấn đề này. Các công ty như Knewton và Dreambox có hơn 15 triệu học sinh sử dụng những nền tảng học tập thích nghi [do họ sản xuất]. Sẽ sớm thôi cho đến khi mỗi app giáo dục sẽ mang tính thích nghi, [và chúng sẽ] học cách cá nhân hóa bài học cho từng học sinh cụ thể. Sẽ có những apps cho bài kiểm tra, thẻ học cụ (flashcard), sách giáo trình, mô phỏng và nhiều hơn thế nữa.

 

Công nghệ 5: Trí tuệ nhân tạo (AI) hay “Một bạn đồng hành có trí tuệ nhân tạo”

 

Trong quyển “The Diamond Age” (Thời đại kim cương) của mình, Neil Stephenson đã trình bày một công nghệ ứng dụng trong giáo dục tuyệt vời gọi là “A Young Lady’s Illustrated Primer” (Sách khai tâm có minh họa của một quý cô nhỏ tuổi).

 

Như Beat Schwendimann đã mô tả: “Primer một quyển sách khai tâm có tính tương tác có khả năng trả lời những câu hỏi của người học (được nói bằng ngôn ngữ tự nhiên), chỉ dẫn thông qua những ngụ ngôn có những yếu tố liên quan đến môi trường của người học, và trình bày thông tin bao quát và chuẩn xác nhất.”

 

Primer bao gồm các bộ cảm biến theo dõi hành động của ngườ học và đưa ra những góp ý. Người học nằm trong mối quan hệ học việc về nhận thức đối với quyển sách: primer sẽ làm mẫu một kỹ năng nhất định (thông qua các nhân vật thần tiên của truyện ngụ ngôn) mà người học sẽ bắt chước trong đời thực.

 

Primer đi theo một quá trình học tập tăng dần theo độ khó và các nhiệm vụ sẽ trở nên phức tạp hơn. Những mục đích giáo dục của primer mang tính nhân bản: nhằm hỗ trợ người học trở thành những người mạnh mẽ và biết tư duy độc lập.”

 

Primer, một bạn đồng hành được cá nhân hóa và có trí tuệ nhân tạo là kết quả của sự hội tụ công nghệ và được miêu tả thật đẹp bởi Youtuber CGP Grey trong video của mình: “Digital Aristotle: Thoughts on the Future of Education” (Aristotle thời kỹ thuật số: những suy nghĩ về tương tai của giáo dục).

 

Bạn đồng hành AI của chúng ta sẽ truy cập không giới hạn những thông tin trên đám mây điện toán và sẽ truyền nó đến từng học sinh theo cách thú vị nhất với tốt độ tối đa. Trí tuệ nhân tạo sẽ biến giáo dục thành một lĩnh vực không còn phải mất phí và bị ràng buộc, sẵn sàng phục vụ mọi đối tượng không cần tính phí (như Google vậy), và sẽ mang lại nền giáo dục công bằng cho trẻ em bất kể giàu nghèo.

 

Bạn đồng hành AI không chỉ là một gia sư dạy những thông tin, con số và cho câu trả lời, mà còn là một người bạn cùng chơi kề bên học sinh, sẵn sàng giúp các em học tập, và thông qua đó học được cách học tốt hơn. AI luôn tỉnh táo quan sát những tín hiệu bực dọc hay chán chường có khả năng dẫn đến bỏ cuộc, hay những dấu hiệu tò mò, hứng thú có thể dẫn đến việc chủ động tìm tòi, hay những biểu hiện thích thú và nắm vững bài học để cho thấy đó là một trải nghiệm học tập thành công.

 

Sau cùng, chúng ta đang hướng đến một thế giới được giáo dục tốt hơn rất nhiều. Chúng ta thực sự đang sống trong một thời điểm hào hứng nhất để sống.

 

(Ghi chú: vào ngay lúc này đây, XPRIZE Foundation đang triển khai chương trình Global Learning XPRIZE trị giá 15 triệu USD với hơn 100 nhóm tham gia xây dựng những phần mềm trên nền tảng Android được thiết kế để dạy những học sinh mù chữ ở Tanzania học đọc, viết, và làm toán trong vòng 18 tháng)

 

Tư duy cho thế kỷ 21

 

Cuối cùng, tôi nghĩ cách tư duy cũng là một vấn đề quan trọng cần bàn. Cách chúng ta nghĩ về tương lai quyết định cách chúng ta học tập và làm việc. Tôi đã viết khá nhiều về tầm quan trọng của một tư duy của sự thịnh vượng và đột phá cho những nhà khởi nghiệp và các CEOs. Tôi cũng nghĩ rằng sự chú ý vào tư duy trong các trường tiểu học, khi trẻ em bắt đầu hình thành nên “hệ điều hành” trí não cho hết phần đời còn lại, thậm chí còn quan trọng hơn.

 

Như thế tôi đề xuất rằng trường học nên có một bộ quy tắc để dạy và khuyến khích một vài kiểu tư duy lồng ghéo trong chương trình của mình.

 

Có nhiều “kiểu tư duy” quan trọng cần khuyến khích. Dưới đây là một vài ví dụ:

 

Nuôi dưỡng tư duy lạc quan và thịnh vượng:

 

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy cạnh tranh, và trẻ em chịu áp lực rất lớn để có kết quả tốt. Nên khi các em không đạt được kỳ vọng thì lập tức [như bong bóng] xì hơi. Chúng ta ai cũng có những lúc thất bại, đó là một phần của cuộc sống. Nếu chúng ta muốn nuôi dạy những đứa trẻ có tinh thần “làm được” sẵn sàng vượt qua thất bại và trở nên mạnh hơn, thì việc nuôi dưỡng tinh thần lạc quan là vô cùng sáng suốt. Những em lạc quan sẵn sàng chấp nhận những rủi ro tích cực, các em cũng có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn và có những mối quan hệ tích cực hơn. Quý vị có thể nuôi dưỡng sự lạc quan trong trường học bằng cách bắt đầu một ngày theo cách tập trung vào lòng biết ơn (điều mà từng em cảm thấy biết ơn), hoặc một “điểm tập trung tích cực” mà mỗi học sinh sẽ nói trong 30 giây về những điều mà các em thấy hào hứng nhất, hoặc sự kiện nào gần nhất có tác động tích cực đến các em. (Ghi chú: ở mỗi cuộc họp trong nhóm PHD Ventures, tôi đều bắt đầu bằng một điểm tích cực).

 

Sau cùng, giúp học sinh hiểu (thông qua dữ liệu và biểu đồ) là thế giới thực ra đang trở nên tốt đẹp hơn (xin đọc quyển sách đầu tiên của tôi: Abundance: The Future is Better Than You Think (Thịnh vượng: tương lai tốt hơn những gì bạn nghĩ) sẽ giúp các em phản biện lại những tin tức tiêu cực đăng tải ào ạt hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng.

 

Khi con em chúng ta thấy tự tin vào khả năng của chúng và hào hứng về tương lai của thế giới, thì các em sẽ sẵn sàng nỗ lực hơn và sáng tạo hơn.

 

Chịu được thất bại:

 

Chịu được thất bại là một bài học khó học và khó dạy. Nhưng nó lại đóng vai trò thiết yếu để thành công trong cuộc sống.

 

Astro Teller, người điều hành nhánh sáng tạo “X” của Google, nói nhiều về việc khuyến khích thất bại. Ở X, người ta thường xuyên tìm cách “giết” những ý tưởng của chính mình. Nếu họ giết được một ý tưởng, như thế đó là 1 ý tưởng “thất bại”, thì họ sẽ tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và nguồn lực. Những ý tưởng mà họ không giết được sẽ tồn tại và được phát triển thành những dự án tỷ USD. Điểm mấu chốt nằm ở chỗ mỗi khi một ý tưởng bị giết, Astro thưởng cho cả nhóm, đúng nghĩa đen, bằng tiền mặt. Sự thất bại được ăn mừng và họ trở thành người hùng.

 

Điều này phải được tái hiện trong lớp học, các em nhỏ nên thử phản biện lại chính những ý tưởng hay nhất của mình (để học tư duy phản biện), tiếp đó các em nên được tổ chức ăn mừng vì đã “thất bại một cách thành công”, có thể bằng bánh, bong bóng, hoa giấy tung lên và thật nhiều tạo bình xịt tạo bọt.



[1] Hai tổ chức do tác giả sáng lập và đồng sáng lập. XPRIZE là một tổ chức phi lợi nhuận thúc đẩy các ý tưởng sáng tạo, Zero-G là doanh nghiệp tổ chức các chuyến bay vào không gian. (ND)

[2] Đây là các nền tảng gây quỹ quần chúng (crowfunding) [ND]

[3] Kính thực tế ảo của Google


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.