[Bài viết] Giới thiệu về Lý thuyết Kỳ vọng (Prospect Theory)

Trung tâm SCIS giới thiệu bài viết "Giới thiệu về Lý thuyết Kỳ vọng (Prospect Theory)" của NCS. Huỳnh Tâm Sáng. Bài viết góp phần làm rõ những đặc điểm của các lý thuyết cấp cao trong việc dự báo hành vi của các quốc gia trong bối cảnh quan hệ quốc tế đang diễn biến ngày càng phức tạp hiện nay.


 

Hình ảnh có liên quan

 

Giới Thiệu Về Lý Thuyết Kỳ Vọng (Prospect Theory)

 

NCS. Huỳnh Tâm Sáng

Nghiên cứu viên cộng tác của Trung tâm SCIS

 

Lý thuyết kỳ vọng (prospect theory) nghiên cứu hành vi kinh tế, cụ thể là tập trung giải thích hành vi ra quyết định. Lần đầu tiên được đưa ra bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky trong bài viết “Prospect Theory: An Analysis of Decision under Risk” (1979), lý thuyết kỳ vọng giải thích hành vi ra quyết định của chủ thể trên cơ sở xem xét kết quả sẽ thu được nếu chủ thể ra quyết định tiến hành một lựa chọn nào đó. Trong bài viết nêu trên, Kahneman và Tversky đã thách thức quan niệm truyền thống về việc con người đưa ra quyết định liên quan đến các hành vi kinh tế. Trước thời điểm lý thuyết kỳ vọng ra đời, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển vận dụng lý thuyết hữu dụng kỳ vọng (expected utility theory) để lý giải rằng con người về bản chất là “duy lý” (rational) trong việc đưa ra quyết định về hành vi kinh tế. Cụ thể là khi buộc phải đưa ra lựa chọn thì con người có xu hướng lựa chọn phương án giúp họ tối đa hóa lợi ích. Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng cũng cho rằng con người cảm nhận về những điều tốt hay điều xấu với mức độ như nhau. Ví dụ, người ta sẽ thú vị khi tìm thấy $5 trên đường phố cùng với mức độ tiếc nuối khi để mất $5[1]. Tuy nhiên, vốn là những nhà tâm lý học, Kahneman và Tversky đưa ra góc nhìn phản biện rằng con người rất dễ có khuynh hướng thiên kiến tri nhận (cognitive bias) và thường không đưa ra lựa chọn hợp lý. Hay nói cách khác, Kahneman và Tversky không tin rằng con người lại luôn “duy lý” - “máy móc” khi đưa ra hành vi lựa chọn. Hai ông đã thách thức giả định cơ bản về hành vi “duy lý” và cho rằng yếu tố tâm lý và cảm xúc giữ vai trò chi phối cơ chế đưa ra quyết định và đôi khi hệ quả là quyết định lựa chọn không phải là phương án tối ưu.


Trên nền tảng tâm lý, lý thuyết kỳ vọng cung cấp luận điểm chủ yếu có tính xuyên suốt là trước viễn cảnh đạt được một lợi ích nào đó, con người có khuynh hướng sợ rủi ro (risk-averse); tuy nhiên sẽ có khuynh hướng chấp nhận liều lĩnh (risk-seeking) khi đối mặt với mất mát. Thật vậy, khuynh hướng chấp nhận liều lĩnh càng lớn khi xác suất mất mát càng lớn lao[2]. Nói cách khác, xác suất thiệt hại và lựa chọn phiêu lưu tỷ lệ thuận với nhau. Ví dụ, khi đứng trước hai lựa chọn: hoặc là nhận số tiền $1000; hoặc bốc thăm (xác suất là 50-50) với thăm dài là sẽ nhận được khoản tiền $2.500 và thăm ngắn là không nhận được số tiền nào thì đa số người chơi sẽ lựa chọn phương án đầu tiên vì sợ rủi ro. Mặc dù, nếu xét theo lý thuyết hữu dụng kỳ vọng thì người chơi sẽ “duy lý” và chọn phương án hai vì căn cứ theo tính toán xác suất thì lợi ích của phương án này là cao hơn phương án một ($1.250 so với $1.000). Khuynh hướng sợ rủi ro là tác nhân khiến người chơi không chấp nhận mạo hiểm và quyết định lựa chọn phương án đầu tiên. Tuy nhiên, nếu trong tình huống người chơi hoặc là mất số tiền $1000; hoặc bốc thăm (xác suất là 50-50) với thăm dài là sẽ mất đi khoản tiền $2.500 và thăm ngắn là không mất tiền thì đa số người chơi sẽ lựa chọn phương án hai vì sợ mất mát. Khuynh hướng sợ mất mát là động lực thúc đẩy người chơi liều lĩnh.


Với nhiều thí nghiệm tâm lý học, Kahneman và Tversky chứng minh rằng con người vốn xem mất mát như sự ám ảnh cố hữu (loss aversion). Khi đó, khả năng được nhận thức (perceived likelihood) về mối đe dọa hay sự mất mát của vấn đề là lớn hơn xác suất thật sự (actual probability) mà vấn đề đó xảy ra trên thực tế. Do vậy, khi xem xét hai nhân tố là mất mát (loss) và lợi nhuận (gain) thì mất mát sẽ gây hậu quả tâm lý nặng nề hơn niềm vui do lợi nhuận mang lại; mặc dù được (win) hay mất (lose) đều mang lại giá trị như nhau[3]. Ví dụ, khi so sánh giữa người A đạt lợi nhuận là $20.000 với người B đạt lợi nhuận là $50.000 và sau đó thua lỗ số tiền là $30.000 thì người A cảm thấy hạnh phúc hơn người B; mặc dù cả người A và người B đều đạt mức lợi nhuận tương đương ($20.000). Hoặc đơn giản hơn là, một người sẽ cảm thấy tiếc nuối rất nhiều khi đánh mất $10 nhưng chỉ cảm thấy đôi chút niềm vui khi nhặt được $10.


Những kết quả nghiên cứu từ bài viết của Kahneman và Tversky đã gây tiếng vang lớn và tạo được ảnh hưởng rộng khắp trong khoa học nghiên cứu hành vi kinh tế (behavioral economics). Từ địa hạt kinh tế, lý thuyết kỳ vọng đã được nghiên cứu và áp dụng để lý giải thực tiễn quan hệ quốc tế từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Một số vấn đề nổi bật đã được giải thích từ góc nhìn của lý thuyết kỳ vọng như quyết định của Tổng thống Roosevelt trong cuộc khủng hoảng Munich năm 1938, quyết định giải cứu con tin của Mỹ bị bắt giữ bởi Iran của chính quyền Carter vào năm 1980, chính sách của Liên Xô đối với Syria (giai đoạn 1966-1967)[4]. Những lợi ích và cạm bẫy từ lý thuyết kỳ vọng cung cấp nhiều góc nhìn tham chiếu hữu ích cho việc giải thích các hành vi chính trị cả về phương diện lý luận lẫn thực nghiệm.


Về cơ bản, lý thuyết kỳ vọng cung cấp hai lập luận chính, bao gồm[5]:


- Trong trường hợp chủ thể nhận định rằng giữ nguyên trạng (status quo) sẽ mang đến lợi ích thì khi đứng giữa hai sự lựa chọn là (1) phiêu lưu với kỳ vọng thu được một số lợi ích, mặc dù vẫn có khả năng mất mát, và (2) lựa chọn giữ nguyên trạng, thì chủ thể sẽ chọn chính sách thứ 2, tức là giữ nguyên trạng nhằm tránh những rủi ro khó đoán định.


- Trong trường hợp chủ thể nhận định rằng giữ nguyên trạng (status quo) không có lợi và gây tổn thất về mặt lợi ích thì khi đứng giữa hai chọn lựa là (1) giữ nguyên trạng, và (2) liều lĩnh “đánh cược” để thu về lợi ích, mặc dù lựa chọn này cũng bao gồm khả năng mất mát, thì chủ thể thường chọn chính sách thứ 2, tức là phiêu lưu với những kỳ vọng.


Việc đưa ra quyết định trong các trường hợp rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức về khả năng diễn tiến của sự kiện đó[6]. Khả năng diễn tiến của sự kiện theo hướng “bấp bênh” hay “mơ hồ” tác động nhiều hơn đến việc đưa ra quyết định. Việc đưa ra quyết định trong các tình huống rủi ro chủ yếu dựa vào việc đánh giá lợi ích (gains) và thiệt hại (losses) bên cạnh cân nhắc về tầm quan trọng của những kết quả không chắc chắn[7]. Có thể khái quát sơ đồ về cơ chế mà chủ thể đưa ra quyết định trước bối cảnh tạo nên mối quan ngại cho quốc gia như sau: (1) tác nhân bên ngoài gây quan ngại cho quốc gia à (2) quốc gia đánh giá về lợi ích (gains) và thiệt hại (losses) trước khi đưa ra quyết định giữ nguyên trạng (status quo) hay can dự (engage) vào tình huống à (3) quốc gia “giữ nguyên trạng” nếu nhận thức rằng giữ nguyên trạng mang lại lợi ích (gains) nhiều hơn can dự; và “can dự” nếu nhận thức rằng giữ nguyên trạng khiến quốc gia chịu tổn thất (losses).


Đối với các chủ thể là quốc gia, quyết định của quốc gia luôn gắn liền với những tính toán chiến lược. Có hai nhân tố bên trong (phát triển kinh tế, sức ép của các đảng phái đối lập, đòi hỏi ổn định chính trị nội bộ…) và bên ngoài (mối đe dọa an ninh truyền thống/phi truyền thống, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa…) tác động lên cơ chế ra quyết định của quốc gia. Đối với các cường quốc thì quyết định của các quốc gia này chủ yếu chịu sự tác động từ môi trường bên ngoài với hai yếu tố được suy giản là thuận lợi và thách thức. Trong đó, thách thức vể cơ bản là nổi trội hơn. Với ý nghĩa đó, xem xét những yếu tố tác động đến nhận thức và việc đưa ra quyết định của cường quốc có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh đó, các cường quốc đã trên cơ sở xem xét lợi ích và cơ hội từ môi trường khu vực và quốc tế để can dự vào các xung đột xa xôi (far-off) hoặc thuộc về ngoại vi của quốc gia – mặc dù các xung đột này không tạo nên mối đe dọa trực tiếp cho các cường quốc. Đáng chú ý là việc can dự này sẽ đồng nghĩa với sự mạo hiểm “kích nổ” tình trạng đối đầu trực tiếp với các đối thủ tại những khu vực không tạo nên lợi ích trực tiếp cho các cường quốc. Những nhân tố thuộc về lợi ích, địa vị và danh tiếng là những nhân tố đã thôi thúc các cường quốc quyết định can dự vào những vùng ngoại vi (peripheral regions)[8]. Hay nói cách khác, các cường quốc có xu hướng chấp nhận rủi ro khi hành động (nguy hiểm) trong trường hợp những quốc gia này nhận định rằng lợi ích hàng đầu có thể bị tổn thương và tính chính danh chính trị (political legitimacy) có nguy cơ bị đe dọa. Lúc bấy giờ, quan ngại về khả năng mất mát là động lực thúc đẩy các cường quốc chấp nhận các lựa chọn có khả năng làm leo thang rủi ro[9].


Trong thế kỷ XXI, quan hệ quốc tế ngày càng diễn biến phức tạp; các khủng hoảng hay xung đột cũng thường diễn ra trong điều kiện mà mức độ không chắc chắn và phức tạp là khá cao. Và mức độ rủi ro càng cao thì mất mát càng có thể gia tăng. Mức độ không chắc chắn và rủi ro cao đôi khi ảnh hưởng và thậm chí là bóp méo những định hướng chính sách. Thách thức các nguyên tắc duy lý trong việc ra quyết định, lý thuyết kỳ vọng cung cấp một cách tiếp cận có hệ thống ngõ hầu giúp ích cho việc giải thích và dự đoán quyết định trên cơ sở rủi ro. Lý thuyết kỳ vọng giải thích và dự đoán khuynh hướng rủi ro cũng như các ưu tiên và lựa chọn[10]. Trong bối cảnh các xung đột ngày càng thu hút sự can dự của các cường quốc thì quyết định của các cường quốc rất cần được nghiên cứu thấu đáo. Tìm hiểu động lực cho quyết định của các cường quốc là cơ sở để làm rõ những lợi ích chiến lược và quan trọng nhất là nhận diện và đánh giá đúng mức những mối đe dọa tại khu vực tranh chấp hay xung đột có tác động đến sự tồn tại và phát triển của quốc gia.

 

----------

 

Tài liệu tham khảo


  1. Barbara Farnham (Ed.) (1994), Avoiding Losses/Taking Risks: Prospect Theory and International Conflict, MI: The University of Michigan Press.
  2. Nicholas C. Barberis (2013), “Thirty Years of Prospect Theory in Economics: A Review and Assessment”, Journal of Economic Perspectives, Vol. 27, No. 1.
  3. Daniel Kahneman and Amos Tversky (1974), “Judgment under Uncertainty: Heuristics and Biases”, Science, New Series, Vol. 185, No. 4157.
  4. Daniel Kahneman and Amos Tversky (1979), “Prospect Theory: An Analysis of Decision under Risk”, Econometrica, Vol. 47, No. 2.
  5. Daniel Kahneman and Amos Tversky (1984), “Choices, Values, and Frames”, American Psychologist, Vol. 39, No. 4.
  6. Daniel Kahneman, Jack Knetsch and Richard Thaler (1990), “Experimental tests of the endowment effect and the Coase theorem”, Journal of Political Economy, Vol. 98, No. 6.
  7. Jack S. Levy (1992), “An Introduction to Prospect Theory”, Political Psychology, Vol. 13, No. 2.
  8. Jeffrey Berejekian (1997), “The Gains Debate: Framing State Choice”, American Political Science Review, No. 91, Vol. 4.
  9. Jeffrey W. Taliaferro (2004), Balancing Risks: Great Power Intervention in the Periphery, Cornell University Press.
  10. Kai He (2014), “Prospect Theory and China’s Crisis Behaviour under Hu Jintao”, The RSIS Working Paper, No. 284.

 



[1] Nicholas C. Barberis (2013), “Thirty Years of Prospect Theory in Economics: A Review and Assessment”, Journal of Economic Perspectives, Vol. 27, No. 1, pp. 173-192.

[2] Daniel Kahneman and Amos Tversky (1984), “Choices, Values, and Frames”, American Psychologist, Vol. 39, No. 4, p. 342.

[3] Daniel Kahneman, Jack Knetsch and Richard Thaler (1990), “Experimental tests of the endowment effect and the Coase theorem”, Journal of Political Economy, Vol. 98, No. 6, pp. 1325-1348.

[4] Barbara Farnham (Ed.) (1994), Avoiding Losses/Taking Risks: Prospect Theory and International Conflict, MI: The University of Michigan Press.

[5] Jeffrey Berejekian (1997), “The Gains Debate: Framing State Choice”, American Political Science Review, No. 91, Vol. 4, pp. 789-805.

[6] Daniel Kahneman and Amos Tversky (1974), “Judgment under Uncertainty: Heuristics and Biases”, Science, New Series, Vol. 185, No. 4157, pp. 1124-1131.

[7] Daniel Kahneman and Amos Tversky (1979), “Prospect Theory: An Analysis of Decision under Risk”, Econometrica, Vol. 47, No. 2, p. 289.

[8] Jeffrey W. Taliaferro (2004), Balancing Risks: Great Power Intervention in the Periphery, Cornell University Press, p. 3.

[9] Jack S. Levy (1992), “An Introduction to Prospect Theory”, Political Psychology, Vol. 13, No. 2, pp. 171-186.

[10] Kai He (2014), “Prospect Theory and China’s Crisis Behaviour under Hu Jintao”, The RSIS Working Paper, No. 284, p. 7.


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.