Robot, việc làm và chính sách

(TBKTSG) - Tương lai việc làm trong các ngành công nghiệp sản xuất giá rẻ sẽ đi về đâu nếu xu hướng tự động hóa và robot hóa tăng nhanh trong thời gian tới? Chính phủ cần tập trung vào những biện pháp “chống sốc” cụ thể và dài hạn như thế nào? Vai trò và trách nhiệm của tổ chức công đoàn ra sao?

 


Ước tính, có khoảng 86% lao động trong ngành dệt may - da giày và 75% lao động trong ngành điện tử của Việt Nam có thể phải đối mặt với nguy cơ tự động hóa cao do những tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Ảnh: KỲ ANH

 

Đó chính là những nội dung chính được thảo luận trong hội thảo quốc tế “Tương lai việc làm trong các ngành công nghiệp sản xuất giá rẻ” diễn ra đầu tháng 5 tại TPHCM. Hội thảo do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM và Viện Friedrich Ebert (FES) phối hợp tổ chức. 


Tự động hóa sẽ lấy việc làm của các ngành công nghiệp giá rẻ?

Viễn cảnh được đưa ra thảo luận là giả thuyết lợi thế về lao động giá rẻ ở các quốc gia đang phát triển ở châu Á đang phải đối mặt với thách thức khi máy móc tự động kỹ thuật số và robot ngày càng được ứng dụng nhiều. Đặc biệt, những quốc gia có mô hình phát triển phụ thuộc vào xuất khẩu, ít ứng dụng công nghệ, nền sản xuất giá rẻ, người lao động càng phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm. Sự phát triển này diễn ra sâu rộng đến mức nào, các quốc gia sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc ra sao và đâu là thời điểm cho sự thay đổi... là những câu hỏi còn đang gây tranh cãi giữa các viện nghiên cứu, nhà nghiên cứu.


Câu hỏi ở đây không phải là “liệu có hay không?” mà  là “khi nào?”. Chắc chắn trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch vì chi phí công nghệ sẽ giảm trong khi chi phí lao động tăng lên.


Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tất cả quốc gia ở châu Á nói chung đều bị ảnh hưởng bởi mối nguy hại về mất việc làm đối với những công nhân được trả lương thấp bởi vì nền sản xuất tự động, theo nghiên cứu của ILO. Cụ thể, tỷ lệ này ở Việt Nam là 70%, Campuchia là 57%, Indonesia là 56% và Thái Lan là 45%.

Tiến sĩ Jörg Mayer đến từ Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc (UNCTAD) không hoàn toàn đồng tình với các quan điểm đó. Ông cho rằng: “Ngoài các bàn luận ra thì có rất ít bằng chứng thực tế cho thấy hiện tượng đưa việc sản xuất có sử dụng nhiều lao động trở lại các quốc gia công nghiệp hóa đang diễn ra. Nếu điều đó xảy ra thì tỷ lệ nhập khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động của Mỹ sẽ giảm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhập khẩu sản phẩm sử dụng nhiều lao động không kém hơn so với nhập khẩu các sản phẩm khác và thị phần của Việt Nam trong các mặt hàng nhập khẩu này đã tăng mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử và giày dép”.

Bình luận về dự báo của ILO về khả năng, mức độ máy móc thay thế người lao động, ông Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho rằng đó là điều sẽ xảy ra và đáng lo. Theo ông, trên thực tế, nếu xét về mặt kinh tế, thì thay thế tự động hóa trong các khâu cơ bản là cần thiết để cải thiện lợi nhuận. Trong thập niên tới, có một số công đoạn như sản xuất tơ sợi hóa học, nhuộm (các khâu độc hại và các khâu lặp lại) có khả năng thay thế rất cao. Nhưng khâu may sẽ có tỷ lệ thay thế thấp, chỉ khoảng 30%. Khâu này khó thay thế một cách ồ ạt, hay thay thế sớm trong vòng 10-15 năm tới.

Đánh đổi: góc nhìn từ chính sách

Bài phát biểu của ông David Lamotte, Phó giám đốc ILO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trình bày tại một buổi tham vấn chính sách tại Hà Nội vào năm ngoái đưa ra một nhận định khác. Theo ông David, “những tiến bộ gần đây về công nghệ đã giúp cắt giảm chi phí đáng kể và giúp tăng khả năng của robot, và thế hệ máy móc mới có thể lập trình lại và sử dụng cho nhiều chức năng đã được đưa vào áp dụng. Theo một số ước tính, vốn đầu tư vào robot công nghiệp có thể được thu hồi trong vòng dưới hai năm”. Xu hướng này có thể đúng như một số diễn giả đánh giá là còn chưa lan tới Việt Nam, do giá lao động vẫn còn cạnh tranh và chi phí đầu tư công nghệ tương đối đắt đỏ. Tuy vậy, theo ông Lamotte, câu hỏi ở đây không phải là “liệu có hay không?” mà  là “khi nào?”. Chắc chắn trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch vì chi phí công nghệ sẽ giảm trong khi chi phí lao động tăng lên.

Câu hỏi “khi nào?” đặt các nước đang phát triển vào một vị thế phải hành động, xét về mặt chính sách công nghiệp quốc gia, lẫn việc làm sao quản trị quá trình chuyển đổi này để có thể đảm bảo mọi người được hưởng lợi từ công nghệ tiên tiến và cạnh tranh công bằng, đồng thời các tiêu chuẩn vẫn được duy trì. Giáo sư Hansjörg Herr, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, tỏ ra bi quan: “Nếu bạn không có chính sách công nghiệp toàn diện, các công ty đa quốc gia sẽ đưa công nghệ đến, nhưng nó sẽ bị cô lập. Bạn có được những hòn đảo công nghệ cao mà không có bất kỳ liên kết nào với phần còn lại của nền kinh tế, điều mà bạn có thể thấy trên toàn khu vực Đông Nam Á, điểm này trái ngược với Trung Quốc. Tại Trung Quốc, các mối liên kết đang được tạo ra do áp lực từ chính sách”.

Tiến sĩ Pavida Pananond (Đại học Thammasat, Thái Lan) đặt câu hỏi về khả năng chuyển đổi nền kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Bà Pananond nhận xét rằng luôn có một trở ngại ngầm đối với những công ty ở các nước đang phát triển trong việc nâng cấp các quy trình sản xuất và các sản phẩm ở đoạn sau (marketing) hoặc đoạn trước (nghiên cứu và phát triển) trong chuỗi giá trị. Lý do chính, theo bà, là những hoạt động đó có thể không nằm trong lợi ích của các doanh nghiệp chủ đạo ở các nước phát triển đang kiểm soát các chuỗi giá trị toàn cầu. Chừng nào chưa khắc phục được trở ngại này, các nước và các doanh nghiệp khó gặt hái được hết lợi ích mà cách mạng công nghiệp 4.0 có thể mang lại.

Ông Marc Saxer, Trưởng đại diện Viện FES tại Ấn Độ, đặt câu hỏi ai là chủ thể của cuộc cách mạng này. Con người và những ý nghĩa xung quanh - trong nhiều trường hợp - bị che phủ bởi ý muốn “vươn xa hơn”, “bay cao hơn” của chính họ. Con người không phải là đối thủ của robot, mà chính là “chủ nhân” của nó, người điều khiển và vận hành công nghệ. Nền sản xuất thay đổi, làm cuộc chơi cũng thay đổi, và “chúng ta cũng cần thay đổi cả tư duy và cách tiếp cận trong phương thức ứng xử với các xu thế mới”, ông Marc nhận định. Cụ thể hơn, theo ông, “(chúng ta) cần phải tạo ra sân chơi bình đẳng giữa robot và con người. Robot không phải trả thuế và không cần các quyền lợi về an sinh xã hội, điều này góp phần đẩy cán cân nghiêng về robot. Vì vậy, bạn cần nghĩ đến các thước đo chính sách để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa robot và con người”. Đó là vai trò của công đoàn, của các đoàn thể xã hội công dân và những đóng góp của các nhà khoa học, nghiên cứu.



Trung Quốc bàn về cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cả về khái niệm lẫn những nội hàm của nó đang được bàn tán và thảo luận rộng rãi ở Trung Quốc. Một trong những dự án nổi bật của chính phủ nước này là chiến lược “Made in China 2025”, hướng tới tăng cao năng suất và thúc đẩy tự động hóa trong các lĩnh vực sản xuất. Giáo sư Huang Yu, Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, cho biết việc khuyến khích sử dụng thêm nhiều robot, không chỉ trong các ngành chế biến chế tạo, là trụ cột chính của chiến lược này. Gần đây, thông qua việc sáp nhập các công ty, Trung Quốc đã mua được một công ty sản xuất robot lớn của thế giới và đang có kế hoạch tập trung phát triển mạnh lĩnh vực này. 

Tiến sĩ Maximilian Mayer (Đại học Đồng Tế, Thượng Hải) cho rằng mặc dù có những yêu cầu nghe rất “kêu”, 95% trong số toàn bộ các công ty ở Trung Quốc còn cách công nghiệp 4.0 rất xa. Quan trọng hơn, “nền kinh tế Trung Quốc đang từ từ chuyển đổi từ sản xuất hàng loạt (Công nghiệp 2.0) sang sản xuất tự động hóa (Công nghiệp 3.0) và bản thân quá trình đó cũng đã làm phát sinh nhiều vấn đề”.

Một điểm mà các chuyên gia thảo luận về tình hình Trung Quốc nhấn mạnh là ai được phép và đủ khả năng tham gia vào cuộc “chuyển hóa vĩ đại này”. Theo GS. Huang Yu, xu hướng thúc đẩy tự động hóa cũng như robot hóa được thúc đẩy chính bởi Chính phủ Trung Quốc và các tập đoàn kinh tế lớn. Các nhóm xã hội khác vẫn chưa tham gia, đặc biệt là công đoàn hay các đoàn thể xã hội chưa có một bức tranh tổng thể về tình hình, và những lát cắt chi tiết về kỹ thuật, nên chưa tạo ra một tiếng nói đóng góp có trọng lượng. Đây là một nguy cơ không những xét về khía cạnh kinh tế, mà còn cả khía cạnh xã hội, việc làm của Trung Quốc trong thời gian tới.

 Việt Nam trong vòng xoáy công nghệ tự động hóa mới toàn cầu

TS. Jörg Mayer (UNCTAD): Cơ hội tăng năng suất

Mức độ sử dụng robot tự động hóa xét về mặt bằng chung ở các nước đang phát triển thì còn thấp, nhưng đang tăng với tốc độ nhanh trong những năm gần đây và tập trung vào một số ngành cụ thể, như trong ngành sản xuất ô tô là 40-50%. Việc sử dụng robot đang chỉ tập trung ở một số quốc gia nhất định, ở châu Á cao nhất là Hàn Quốc và Nhật Bản. Việt Nam hiện chỉ ở mức thấp trong làn sóng tự động hóa này, hầu hết robot được sử dụng trong hai ngành sản xuất là cao su và nhựa.

Theo đánh giá của tôi, năng suất là một trong những vấn đề quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Việc sử dụng robot và thúc đẩy xu hướng tự động hóa có thể giúp Việt Nam chuyển đổi từ phát triển quy trình sản xuất sang phát triển sản xuất một cách trực tiếp.

Thực chất tác động tiêu cực của robot tới các ngành sản xuất và lao động cho tới hiện tại vẫn chỉ là sự thổi phồng, hoặc chưa có nhiều bằng chứng cụ thể hơn để cho rằng robot sẽ thay thế con người và “cướp” đi việc làm của lực lượng lao động Việt Nam.

Trong khi đó thì cơ hội tạo ra nhờ cải thiện công nghệ và robot là hết sức rõ ràng đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là khi Việt Nam có thể liên kết với các nhà cung ứng toàn cầu dựa vào các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết để tạo thành một mạng lưới sản xuất phục vụ cho các mục tiêu công nghiệp hóa và tăng trưởng của mình. 

GS. Hansjörg Herr (nghiên cứu viên cao cấp của SCIS, trường Đại học KHXHNV TPHCM): Tận dụng chuỗi giá trị toàn cầu để thay đổi

Chính sách công nghiệp truyền thống cần có sự thích nghi khi một quốc gia hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sách công nghiệp truyền thống hỗ trợ sản xuất những mặt hàng có tính cạnh tranh quốc tế, có khả năng xuất khẩu hoặc hỗ trợ việc sản xuất hàng hóa có thể thay thế hàng nhập khẩu. Khi các chuỗi giá trị toàn cầu có vai trò quan trọng với một quốc gia, các chính sách đó sẽ trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, một quốc gia cần cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm cải tiến để tiếp nhận các chuỗi giá trị toàn cầu.

Với Việt Nam, mục tiêu trọng tâm của chính sách công nghiệp trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu cần xem xét trong hai khía cạnh song hành cùng một lúc. Thứ nhất là phát triển theo chiều dọc, di chuyển lên những mức cao hơn trong các chuỗi giá trị toàn cầu sẵn có. Thứ hai là tạo ra các ngành công nghiệp quốc gia phát triển đầy đủ và hội nhập (tham gia) vào những chuỗi giá trị mới, với nhiều thặng dư về công nghệ và chất xám hơn. Cả trong hai trọng tâm này thì tăng năng suất là then chốt.

Các công ty nước ngoài hàng đầu cũng như những nhà cung ứng lớn và quyền lực cho các công ty hàng đầu, được định vị ở khoảng giữa của chuỗi giá trị, nên được tiếp cận để chuyển giao kỹ thuật và công nghệ sang Việt Nam.

Ngược lại, Việt Nam cần nhận thức đầy đủ rằng các doanh nghiệp FDI chỉ có những tác động tích cực giới hạn. Trong cùng một chuỗi giá trị có sẵn, việc “mặc cả” để vươn lên một vị trí cao hơn là một việc rất khó khăn, và (có thể) cần nhiều yếu tố khách quan từ bên ngoài. Việt Nam cần hỗ trợ việc tăng năng suất trong các ngành công nghiệp đã hội nhập sâu vào thị trường thế giới, ngành điện máy, ngành dệt may, ngành sản xuất giày và da thuộc.

Trong những ngành này, đặc biệt cần đến ba chiến lược chủ yếu. Đầu tiên, các nền kinh tế quy mô nên được khai thác. Thứ hai, các liên kết trước và sau sản xuất cần được hình thành. Câu chuyện doanh nghiệp phụ trợ là một vấn đề nghiêm túc, cần hành động chứ không thảo luận nữa. Và thứ ba, mọi thay đổi nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo cần đưa thành một nguyên tắc sống còn.

Để cải tiến phác thảo chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp thị và xây dựng thương hiệu là rất quan trọng. Việt Nam cần cố gắng phát triển những thương hiệu của riêng mình.

Nhi Nguyễn ghi

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.